Bài văn hay

Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu – Bài làm 1

Là một người yêu thích thơ Tố Hữu, hẳn không ai là không biết đến bài thơ “Từ ấy” nằm trong tập thơ cùng tên của ông. Có thể nói “Từ ấy” là tiếng lòng, là tiếng reo vui của tâm hồn ông khi được chân lý của Đảng khai sáng, soi đường. Và “Từ ấy” đến với Tố Hữu một cách tự nhiên, không trau chuốt, hoa mĩ, mà đó là những cảm xúc, sự thăng hoa của tâm hồn ông viết nên.

Cái tên của bài thơ nghe rất đơn giản. Dường như nó được phát ra luôn lúc mà nhà thơ vừa sáng tác xong, chứ không hề có chỉnh sửa hay thay đổi nào hết. “Từ ấy” là chỉ một mốc thời gian cố định, ngay tại một cái khoảnh khắc nào đó, đánh dấu bước ngoặt cuộc đời của Tố Hữu. Nó chính là tiếng lòng, tiếng reo hò vui vẻ, là sựu hân hoan không thể nào xác định được, chỉ biết gọi là “Từ ấy”.

Ở khổ thơ đầu tiên là niềm vui, là sự lâng lâng hạnh phúc khi nhà thơ tìm thấy ánh sáng, chân lý, lý tưởng của cuộc đời mình.

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tô là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

Ngay ở câu thơ đầu tiên ta đã bắt gặp một hình ảnh ẩn dụ rất mạnh mẽ, đó là “bừng nắng hạ”. chúng ta chắc ai cũng biết, cũng cảm nhận được ánh nắng của mùa hè chói chang đến cỡ nào, có sức lan tỏa đến cỡ nào và rực rỡ ra sao rồi phải không. Nó đủ để làm bừng lên, phát sáng lên mọi góc khuất, mọi nơi tối tăm, cùng cực nhất của thế gian cũng như của tâm hồn con người bị đóng băng, bị che giấu, bao phủ. Tiếp tục với lối ẩn dụ tài tình bằng những hình ảnh như “mặt trời chân lý” như “chói qua tim”. Nhà thơ tiếp tục trải ra trước mắt ta sự hân hoan, sự vui sướng đến tột cùng của mình. “Mặt trời chân lý” đó chính là những lý tưởng sáng sủa, mới mẻ của Đảng, của cách mạngđang thấm sâu, thấm sâu vào từng thớ da thịt, vào tận xương tủy, tới trái tim đang lỗi nhịp, đang khô cằn, phủ bụi của Tố Hữu. Làm cho ông phải dùng đến “vườn hoa lá”, “đậm hương”, “tiếng chim” mới diễn đạt hết những niềm hạnh phúc, những sự hân hoan trong tâm hồn của người chiến sĩ trẻ tuổi lúc bấy giờ. Phải chăng, tâm hồn của người chiến sĩ này trước đây rất mông lung, rất tăm tối nhưng từ khi gặp được lý tưởng ấy, Tố Hữu đã phải ví von, so sánh với “vườn hoa lá” đang ở độ xuân thì, đang sinh sôi, nảy nở với trăm hoa, muông thú cùng khoe hương, khoe sắc, khoe thanh. Sự náo nức, nhiệt huyết, sự mãnh liệt đến cùng cực của niềm vui hân hoan là những gì mà ta cảm nhận được ở khổ thơ mở đầu này.

Và cũng nhờ cái khoảnh khắc “Từ ấy” đó mà nhà thơ Tố Hữu – người chiến sĩ trẻ đó đã tìm được cho mình lý tưởng sống mới, lẽ sống mới. Đó là:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải khắp muôn nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Lý tưởng sống mới, lẽ sống mới mà nhà thơ nói đến ở đây là sự tự nguyện đến chân thành khi ông sẵn sàng “buộc” lòng mình với tất cả mọi người, tất cả mọi nơi. Ông nhận mình là một người dân lao động bình thường, là một người đồng bào của đất nước Việt Nam, là người cũng chia sẽ vui buồn, khổ cực, cùng ăn uống, cùng ngủ nghỉ như tất cả mọi người. Và tất cả gắn kết họ thành một đại gia đình, thành một khối thống nhất khôn gì tách rời được. Ở câu cuối cùng của khổ thơ thứ hai, ta thấy chú ý nhất ở hai từ “khối đời”. Hai từ này bao hàm rất rộng rãi, có nhiều ý nghĩa mông lung, không rõ ràng. Nhưng ở bài thơ này, nó là nhiều, là vô vàn, vô số cuộc đời được gắn kết, được chia sẽ, được bao bọc lấy nhau tạo thành một khối thống nhất, vững chắc, liên kết với nhau như những người thân ruột thịt trong gia đình mà không gì có thể lung lay hay chia cắt được.

Ở bốn câu thơ cuối cùng, nhà thơ – nhà chiến sĩ trẻ tiếp tục nhấn mạnh, khẳng định về mình, về vai trò, về trọng trách, vị trí mà mình đang đảm nhiệm:

Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ…

Từ một người đã từng sống trong cảnh tối tăm, mất phương hướng, Tố Hữu bây giờ đã là con, là em, là anh của đại gia đình nhân dân lao đọng nghèo khổ. Hiện tại trái ngược với quá khứ. Ông đang trở thành chỗ dựa, thành nơi khai sáng và cũng là lý tưởng, nguồn chân lý của những người có kiếp sống “phôi pha”, nhạt nhẽo, đáng thương, của những đứa em nhỏ bơ vơ, lạc lõng giữa dòng đời vô định và không biết đến ngày mai “cù bất cù bơ”. Tưởng như ta chỉ bắt gặp tính từ “cù bất cù bơ” này trong những câu nói của người dân lao động nghèo khổ khi họ đang nói chuyện với nhau mà thôi. Vậy mà trong thơ ông ta bắt gặp sự gần gũi thường ngày đó. Bởi giờ ông không phải mang tâm thế của một người đi khai sáng, mà là con, là em, là anh của họ. Người chiến sĩ trẻ ấy sống cùng với họ, trải qua mọi dắng cay khổ cực, cũng nhau san sẽ, chia sớt những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, những nỗi nhọc nhằn lo toan thường ngày. Việc nhà thơ nhấn mạnh, lặp đi lặp lại từ “là” để cho người đọc có cảm giác chắc chắn, bền chặt, gắn bó keo sơn giữa ông với những người dân lao động trong xã hội lúc bấy giờ.

Chỉ với những hình ảnh ẩn dụ đơn giản, những biện pháp so sánh ví von, hay dùng điệp từ ít ỏi mà Tố Hữu đã diễn tả hết sức thành công mĩ mãn những gì mà trong tâm hồn ông, trong cõi lòng của ông đang cố gắng để nói ra. Câu từ mộc mạc, gần gũi, không trau chuốt, không gọt giũa nhiều nhưng lại có hiệu ứng rất mạnh với không chỉ những thế hệ thanh niên như ông lúc bấy giờ, mà còn cả những thế hệ sau này nữa. Bài thơ như lời cổ động, lời kêu gọi thức tỉnh mọi thế hệ, mọi lớp người đang loay hoay với mớ bòng bong của chính mình. Hãy thức tỉnh, dể thấy tâm hồn mình thực sự nhảy múa, thực sự tràn ngập tiếng chim ca, mùi hoa đưa khắp nơi nơi.

Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu – Bài làm 2

Tố Hữu là một trong số các nhà thơ lớn của dân tộc, có thể khẳng định rằng Tố Hữu đến với cách mạng và thơ gần như là cùng một lúc. Là người cùng thế hệ với các nhà thơ mới từ trước khi giác ngộ cách mạng, Tố Hữu đã tiếp nhận những thành tựu của Thơ mới để làm giàu cho thơ ca cách mạng, mặc dù con đường thơ của ông khác hẳn với con đường Thơ mới, nó gắn liền với lý tưởng cộng sản và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc đời mới.

Xem thêm:  Suy nghĩ về câu nói Đi một ngày đàng học một sàng khôn

Các chặng đường thơ của Tố Hữu gắn liền với các tập thơ, thể hiện sự vận động và phát triển về tư tưởng và nghệ thuật của một nhà thơ gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Tập thơ “Từ ấy” (1937-1946) là chặng đường đầu của thơ Tố Hữu, cũng là khoảng thời gian mười năm hoạt động cách mạng sôi nổi, từ chỗ say mê giác ngộ lí tưởng đến sự nếm trải thử thách và trưởng thành của người thanh niên trên con đường cách mạng. Tập thơ gồm có ba phần là: Máu lửa, Xiềng xích và Giải phóng.

Bài thơ “Từ ấy” nằm trong phần Máu lửa của tập thơ cùng tên của Tố Hữu, đây là tiếng reo náo nức, lãng mạn mà trong trẻo, chân thành của một tâm hồn đang băn khoăn tìm lẽ sống thì may mắn bắt gặp ánh sáng rực rỡ của lý tưởng cách mạng.

Bài thơ gồm có 3 khổ thơ được viết theo thể thất ngôn ca ngợi lý tưởng cách mạng và thể hiện tình yêu giai cấp của người chiến sĩ trẻ. Ở khổ thơ mở đầu, ta cảm nhận như được nghe một khúc hát say mê, tràn ngập niềm vui tươi và hạnh phúc của người chiến sĩ:

“ Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Chắc chắn có một số người thắc mắc “từ ấy” là bao giờ, “từ ấy” chính là mốc thời gian tháng 9 năm 1938, đây chính là lúc nhà thơ vô cùng hân hoan vui sướng khi gặp lí tưởng cách mạng, khi có “mặt trời chân lí chói qua tim”. Tố Hữu đã dùng hình ảnh ẩn dụ rất độc đáo “mặt trời chân lí” để nói về ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lenin, chính lí tưởng cộng sản, lí tưởng cách mạng đã soi rọi vào tận cùng nhận thức còn tăm tối, không biết tìm lối đi nào cho mình của người chiến sĩ trẻ, làm “bừng nắng hạ” cũng là bừng lên những hy vọng và sự tin tưởng vào lí tưởng đó. Tác giả sử dụng những động từ mạnh như “bừng”, “chói” để diễn tả sự mạnh mẽ của lí tưởng cách mạng, lí tưởng cộng sản của chủ nghĩa Mac-Lenin, Dưới ánh sáng đó, tâm hồn của người chiến sĩ trẻ như được sống lại, dạt dào sức sống như một vườn cây rực rỡ, đa dạng sắc màu, “đậm hương” hoa lá và rộn ràng tiếng chim hót. Ngoài “Từ ấy”, khi đến với chủ nghĩa Mac-Lenin, Tố Hữu cũng có những vần thơ rất độc đáo khác:

“ Khi ta say mùi hương chân lí
Đời đắng cay không một chút ngọt bùi
Đời đau buồn không một tiếng cười vui
Đời đen tối phải đi tìm ánh sáng”
(Như những con tàu)

Tiếp đến, ở khổ thơ thứ hai, tác giả nói lên sự gắn bó của mình với mọi người khi đã được giác ngộ lí tưởng cộng sản, cách mạng để tạo thành một khối đoàn kết vững chắc, to lớn chống lại sự áp bức, bóc lột:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Tố Hữu sử dụng các từ ngữ “buộc”, “trải”, “gần gũi”…có tác dụng thể hiện sự gắn bó tha thiết, chặt chẽ với “mọi người”, với “trăm nơi”, với “bao hồn khổ”, tức là với các giai cấp và nhân dân lao động nghèo khổ đang bị áp bức và bóc lột. Chính ánh sáng của chủ nghĩa Mac-Lenin đã mang mọi người lại gần nhau hơn, giúp nhận thức được cần phải đoàn kết, liên minh với nhau mới tạo nên sức mạnh để chống lại sự áp bức, bóc lột và giải phóng con người.

Ở những vần thơ cuối cùng của bài thơ “Từ ấy”, hơn bao giờ hết, cái “tôi” cá nhân đã chan hòa trong cái “ta” của cộng đồng rộng lớn. Vừa thân thiết vừa yêu thương, nhưng tất cả đều trên tinh thần tự giác và tự nguyện không ép buộc:

“Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ”

Ở khổ thơ cuối này, các từ “là”, “vạn” được điệp lại ba lần như nhấn mạnh ước nguyện được hòa chung, được cống hiến của người chiến sĩ trẻ. Tác giả đã có sự chuyển biến lớn về tình cảm từ sự chuyển biến về nhận thức, lẽ sống. Tác giả tự xem mình là một thành viên trong gia đình nhỏ xứ Huế, giờ đây chuyển biến ở mức độ lớn hơn trở thành “con của vạn nhà”, là “em của vạn kiếp phôi pha”. “Kiếp phôi pha” ở đây chính là những thế hệ chiến sĩ cộng sản đi trước nhà thơ, họ đã xông pha qua chông gai nguy hiểm chiến đấu với kẻ thù xâm lược để thực hiện nhiệm vụ cao cả. Khi đã trưởng thành trên con đường cách mạng, Tố Hữu vui vẻ khẳng định mình xứng đáng là “anh của vạn đầu em nhỏ”. Một lần nữa tác giả thể hiện rõ quan điểm giai cấp của mình, thế hệ cách mạng đi sau nhà thơ không phải chung chung mọi tầng lớp mà là con em của giai cấp công nhân và nông dân nghèo khổ. Chính tình cảm ruột thịt với quần chúng lao khổ trong một đại gia đình đã tạo nên nội lực, sức mạnh để Tố Hữu trở thành một nhà thơ chân chính.

“Từ ấy” được xem như là tiếng lòng của một người chiến sĩ cách mạng trẻ hướng về Đảng và cách mạng. Đây cũng được xem như là tuyên ngôn về lẽ sống của một chiến sĩ cách mạng, đồng thời cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ, định hướng cho toàn bộ quá trình sáng tác của Tố Hữu.

Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu – Bài làm 3

Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920 ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông hoạt động cách mạng rất sớm, năm 16 tuổi gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản, năm 18 tuổi trở thành đảng viên Đảng Cộng sản. Đây là thời điểm có ý nghĩa quyết định cả cuộc đời cách mạng và sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu. Từ ấy là một trong những bài thơ hay nhất được sáng tác vào giai đoạn đầu tác giả tham gia cách mạng. Bài thơ là tiếng reo vui của người chiến sĩ say mê lí tưởng, yêu nước, yêu cuộc đời, nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, cho nhân dân. Có thể coi bài thơ là tuyên ngôn cho tập Từ ấy nói riêng và cho toàn bộ sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu nói chung. Đây là quan điểm, là nhận thức sâu sắc của nhà thơ về mối quan hệ mật thiết giữa cá nhân với quần chúng lao khổ, với nhân loại cần lao dưới ánh sáng chói lọi của Đảng Cộng sản.

Khổ thơ đầu thể hiện niềm vui to lớn và niềm xúc động thiêng liêng của người thanh niên yêu nước khi giác ngộ lí tưởng cách mạng:

Xem thêm:  Nghị luận suy nghĩ của em về trang phục học đường - Văn mẫu lớp 11

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ 
Mặt trời chân lí chói qua tim

Mục đích của lí tưởng đó là đánh đuổi thực dân Pháp, tiêu diệt bọn vua quan bán nước, giành độc lập tự do cho dân tộc. Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ có lẽ là lúc nhà thơ đã giác ngộ cách mạng và tình nguyện đứng trong hàng ngũ của giai cấp cần lao để đấu tranh tự giải phóng. Đây cũng là thời gian khởi đầu cuộc đời làm cách mạng của nhà thơ và là giây phút bừng sáng ánh nắng chói chang trong trái tim người thanh niên trẻ trước ngưỡng cửa cuộc đời.

Lí tưởng đó như mặt trời chân lí đã xua tan hết u ám, lạnh lẽo, buồn đau trong tâm tư người dân mất nước. Cũng như bao người dân Việt Nam thời ấy, Tố Hữu thấm thía nỗi nhục nô lệ của người dân mất nước. Vì vậy, tâm trạng của nhà thơ khi bắt gặp lí tưởng cách mạng cũng là tâm trạng chung của phần lớn thanh niên lúc bấy giờ.

Tố Hữu ví lí tưởng cộng sản là mặt trời chân lí, có nghĩa là nhà thơ khẳng định đây là nguồn sáng vĩ đại làm bừng thức cả trí tuệ và trái tim mình. Lí tưởng ấy không chỉ tác động tới lí trí mà còn tới tình cảm của nhà thơ (chói qua tim). Điều đó chứng tỏ rằng nội dung của lí tưởng cách mạng đã hàm chứa chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc.

Nhà thơ đón nhận lí tưởng không những bằng suy nghĩ chín chắn, nhận thức đúng đắn mà còn bằng cả bầu nhiệt huyết sôi nổi trẻ trung. Ánh sáng lí tưởng đem lại cho nhà thơ niềm vui và gợi bao ước mơ đẹp đẽ về một thế giới đầy hương sắc, âm thanh:

Hồn tôi là một vườn hoa lá 
Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

Câu thơ bay bổng, đậm chất lãng mạn. Nhà thơ diễn tả niềm vui sướng tột độ của một thanh niên yêu nước khi bắt gặp lí tưởng, tìm thấy lẽ sống chân chính của cuộc đời bằng những hình ảnh so sánh đầy nghệ thuật. Đó là ánh sáng chói chang mùa hạ, là màu xanh căng đầy nhựa sống của một vườn hoa lá tốt tươi tỏa hương thơm ngát, rộn tiếng chim ca. Lí tưởng cộng sản – mặt trời chân lí – không những sưởi ấm, soi sáng tâm hồn mà còn truyền nhựa sống vào trái tim người trai trẻ.

Tố Hữu sung sướng đón nhận tí tưởng như cỏ cây hoa lá đón ánh sáng mặt trời. Chinh lí tưởng cộng sản đã làm cho tâm hồn người thanh niên ấy tràn đầy sức sống và niềm yêu đời, khiến cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn. Tố Hữu còn là một nhà thơ nên vẻ đẹp và sức sống mới của tâm hồn cũng là vẻ đẹp và sức sống mới của hồn thơ. Cách mạng không đối lập với nghệ thuật; trái lại, cách mạng đã khơi dậy một sức sống mới, đem lại một cảm hứng sáng tạo mới cho hồn thơ Tố Hữu.

Những từ ngữ tác giả sử dụng trong đoạn thơ có khả năng diễn tả cảm xúc mạnh mẽ: bừng (nắng hạ), chói (qua tim), đậm (hương), rộn (tiếng chim). Những hình ảnh: nắng hạ, mặt trời chân lí chói qua tim, vườn hoa lá, đậm hương, rộn tiếng chim… vừa có vẻ đẹp rực rỡ, vừa hàm chứa ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

Khổ thơ thứ ba là hệ quả của sự giác ngộ chân lí, là lời tâm niệm được nói lên như một lẽ sống, một quyết tâm, một lời hứa thiêng iiêng. Đó là thái độ tự nguyện hiến dâng cho cách mạng, tự nguyện gắn bó với quần chúng lao khổ:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người 
Để tình trang trải khắp trăm nơi 
Đê hồn tôi với bao hồn khổ 
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Nếu ở khổ thơ trước với biện pháp tu từ ẩn dụ (nắng hạ, mặt trời chân lí, vườn hoa lá ) với lời thơ bay bổng, lãng mạn thì ở khổ thơ này tác giả sử dụng ngôn ngữ giản dị mộc mạc, âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng. Đó là lời bộc bạch trực tiếp ước vọng chân thành của nhà thơ; là tâm niệm của “cái tôi trữ tình cách mạng”. Tôi buộc lòng tôi với mọi người là hành động hoàn toàn tự nguyện của nhà thơ đối với giai cấp cần lao. Nhà thơ muốn tình cảm của mình được trang trải với trăm nơi, trở thành sợi dây liên kết chặt chẽ với những trái tim của lớp người cùng khổ để tạo nên một khối đời vững chắc, trở thành sức mạnh to lớn phá tan chế độ thực dân phong kiến, xây dựng một chế độ mới tốt đẹp hơn.

Trong quan niệm về lẽ sống của giai cấp tư sản và tiểu tư sản có phần đề cao “cái tôi cá nhân”. Khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu khẳng định quan niệm mới về lẽ sống là sự gắn bó hài hòa giữa “cái tôi cá nhân” và “cái ta tập thể”. Động từ buộc thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn của “cái tôi cá nhân” để sống chan hòa với mọi người. Từ trang trải thể hiện tâm hồn nhà thơ trải rộng ra với cuộc đời, đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của mỗi con người.

Hai câu thơ sau cho thấy tình yêu thương con người của Tố Hữu không phải là thứ tình thương chung chung mà là tình cảm hữu ái giai cấp. Trong mối liên hệ với mọi người, nhà thơ đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ. Khối đời là ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ trong cuộc đời, đoàn kết chặt chẽ với nhau, cùng phấn đấu vì một mục tiêu chung. Có thể hiểu: khi “cái tôi” chan hòa trong “cái ta”, khi cá nhân hòa mình vào tập thể có cùng lí tưởng thì sức mạnh sẽ nhân lên gấp bội. Tố Hữu đã đặt mình vào giữa dòng đời, vào môi trường rộng lớn của quần chúng lao khổ. Ở đấy, nhà thơ đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm mến yêu, bằng sự giao cảm của những trái tim. Qua đoạn thơ, Tố Hữu cũng khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa văn học và cuộc sống, mà chủ yếu là cuộc sống của đông đảo quần chúng nhân dân.
Khổ thơ thứ ba cho thấy sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của Tố Hữu. Nhà thơ mong muốn tình cảm nồng nhiệt của mình sẽ trở thành sợi dây liên kết chặt chẽ những trái tim của những người cùng khổ, tạo nên sức mạnh to lớn phá tan chế độ bạo tàn đầy áp bức bất công:

Tôi đã là con của vạn nhà 
Là em của vạn kiếp phôi pha 
Là anh của vạn đầu em nhỏ 
Không áo cơm cù bất cù bơ.

Trước khi giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Lí tưởng cộng sản giúp nhà thơ không chỉ có được lẽ sống mới mà còn vượt qua tình cảm ích kỉ, hẹp hòi của giai cấp tiểu tư sản để có được tình hữu ái giai cấp với quần chúng nghèo khổ. Hơn thế, nhà thơ đã tìm thấy tình cảm gia đình ruột thịt trong quần chúng cách mạng. Người chiến sĩ ấy tự nguyện coi mình là con của vạn nhà, Là em của vạn kiếp phôi pha, Là anh của vạn đầu em nhỏ.

Xem thêm:  Nghị luận tư tưởng của Voltaire: Việc làm xua đuổi xa ta ba mối họa lớn: buồn nản, thói hư và cùng túng

Một sự tự nguyện hoàn toàn, tuyệt đối, không băn khoăn, không ngần ngại. Điệp ngữ: Tôi đã là… lặp đi lặp lại ba lần, giống như một lời tuyên thệ của một chiến sĩ khi đã đứng trong hàng ngũ cách mạng. Điệp từ là cùng với các từ con, em, anh và số từ ước lệ vạn (chỉ số lượng hết sức đông đảo) nhấn mạnh và khẳng định một tình cảm gia đinh thật đầm ấm, thân thiết. Khi nối tới những kiếp phôi pha (những người đau khổ, bất hạnh, những người lao động vất vả, thường xuyên phải dãi dầu mưa nắng để kiếm sống), những em nhỏ không áo cơm cù bất cù bơ (những em bé không nơi nương tựa, phải lang thang vất vưởng nay đây mai đó), tấm lòng đồng cảm, xót thương của nhà thơ biểu hiện thật chân thành, xúc động. Qua đó, chúng ta có thể thấy được thái độ căm giận của nhà thơ trước những bất công, ngang trái của cuộc đời cũ. Chính vì những kiếp phôi pha, những em nhỏ cù bất cù bơ ấy mà người thanh niên Tố Hữu đã hăng say hoạt động cách mạng và họ cũng chính là đối tượng sáng tác chủ yếu của nhà thơ Tố Hữu. (Cô gái giang hồ trong Tiếng hát sông Hương, cô bé đi ở trong Đi đi em, ông lão khốn khổ trong Lão đầy tớ, em bé bán bánh rong trong Một tiếng rao đêm…)

Bài thơ Từ ấy tiêu biểu cho bút pháp lãng mạn cách mạng trong giai đoạn sáng tác đầu tiên của Tố Hữu. “Cái tôi trữ tình” lắng đọng trong từng ý thơ, từng hình ảnh, lúc bay bổng, lúc lắng đọng, lúc là lời bộc bạch trực tiếp, chân thành những ước vọng, tâm tư khi tìm thấy lí tưởng. Từ ấy là tiếng hát yêu thương, tin tưởng, là tiếng lòng tha thiết của một thanh niên bắt đầu giác ngộ lí tưởng, tự nguyện dấn thân vào con đường cách mạng đầy chông gai, gian khổ, hi sinh của toàn dân tộc. Vượt thời gian, sau hơn nửa thế kỉ ra đời, Từ ấy vẫn tươi xanh chất trữ tình cách mạng. Bài thơ đã tạo được sự đồng cảm, mến mộ của nhiều thế hệ yêu thích thơ Tố Hữu.

Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu – Bài làm 4

Tố Hữu là ngọn cờ đầu của phong trào thơ cách mạng Việt Nam với những tác phẩm tự sự nhưng dạt dào tình cảm. “Từ ấy” là bài thơ rút trong tập thơ cùng tên sáng tác năm 1938, đánh dấu sự trưởng thành của người thanh niên cách mạng. Bài thơ chính là tiếng reo vui của tác giả khi được đứng trong hàng ngũ đảng cộng sản Việt Nam.

“Từ ấy” là một từ chỉ thời gian đánh dấu bước ngoặc có ý nghĩa lớn trong cuộc đời của người thanh niên cách mạng, đánh dấu sự trưởng thành, lớn lên về tâm hồn cũng như lý tưởng cách mạng. Giây phút ấy khiến cho tác giả nghẹn ngào, dường như không nói được nên lời, chỉ có thể dồn trong hai từ “từ ấy”. Từ ấy chính là cảm xúc chủ đạo của bài thơ, là tiếng lòng reo vui, rộn rã, tràn ngập tin yêu của một người thanh niên khi được đứng trong hàng ngũ cao quý của Đảng. Sau thời gian xác định “từ ấy” chắc chắn người thanh niên đó sẽ có những chuyển biến mạnh mẽ trong cuộc đời cũng như trong con đường hoạt động cách mạng của mình.

Tác giả đã mở đầu bằng một lời thơ rộn rang, tràn ngập tin yêu:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Tác giả vui mừng không nói nên lời, chỉ biết ngập ngừng “từ ấy”, và sau thời gian “từ ấy” đó chính là những bước ngoặc cũng như sự giác ngộ lý tưởng lớn. Một loạt hình ảnh ẩn dụ “bừng nắng hạ”, “mặt trời chân lý” đều mang trong mình ý nghĩa biểu tượng cho những gì tươi sáng, tốt đẹp, rạng ngời nhất. Từ “bừng” ở câu thơ đầu tiên như làm sáng lên cả bài thơ, từ bừng mang ý nghĩa là thức tỉnh, một sự thức tỉnh có quá trình. Nắng hạ là thứ nắng chói chang, nắng đẹp, tràn ngập niềm vui và sức sống. Tác giả như bước ra, thoát khỏi chốn tăm tối, bế tắc, không lối thoát của cuộc đời để đến với ánh sáng của cách mạng và niềm tin. Giây phút được bước vào hàng ngũ của đảng như là “chân lý”, điều đáng trân trọng một đời.

Sự chuyển biến rõ nhất diễn ra trong tâm hồn người chiến sĩ cách mạng

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Sự thức tính và giác ngộ cách mạng khiến tâm hồn của người chiến sĩ trẻ như một vườn hoa tràn ngập tiếng chim và rực rỡ sắc hoa. Phép so sánh ấy thực sự rất tài tình và đầy ý nghĩa. Một tâm hồn thực sự sinh động, tràn đầy sức sống, tác giả đã biến cuộc đời mình tràn ngập niềm tin và tự hào. Chỉ với khổ thơ đầu này nhưng dường như cả bài thơ đã được vẽ lên bằng một gam màu tươi sáng và đẹp đẽ nhất.

Sự giác ngộ trong lý tưởng cách mạng đó đã hình thành nên tư tưởng lớn trong tâm hồn:

Tôi buộc lòng tôi với mọi nhà

Để tình trang trải đến trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm vạn khối đời

Một khổ thơ vừa  bộc lộ rõ nét cái tôi cá nhân vừa bộc lộ cái ta rộng lớn, bao la nhất. Từ “buộc” ở câu thơ đầu tiên gợi lên cảm giác gắn bó đối với người chiến sĩ cách mạng với mọi người. Từ “buộc” chính là sợi dây, là con đường, là lẽ sống mà người chiến sĩ đã lựa chọn và theo đuổi dến cùng. Với một tấm lòng kiên trung, tình yêu thương rộng lớn, người chiến sĩ muốn mang đến sự bình an, ấm no nhất cho nhân dân, để có thể cùng nhân dân gánh bớt nỗi khổ, cực nhọc.

Từ chân lý muốn được bao bọc, chở che, gắn bó với mọi nhà, ở khổ thơ cuối chính là lời khẳng định vị thế của mình:

Tôi là con của vạn nhà

Là anh của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm cù bất cù bơ

Khổ thơ mang ý nghĩa liệt kê nhưng nó vẫn toát lên được tình cảm, sự tin yêu và gắn  bó của người chiến sỹ đối với toàn thể nhân dân.Từ “là” được lặp đi lặp lại nhằm nhấn mạnh mối quan hệ hiên nhiên giữa mình với nhân dân, gắn bó với họ, cùng san sẻ, cùng gánh vác khổ đau, đương đầu với sóng gió, quyết không để lùi bước. Tinh thần ấy của tác giả thực sự đáng ngưỡng mộ và khâm phục. Tác giả coi mình cũng như một người vô danh “cù bất cù bơ” nhưng có tinh thần đoàn kết và kiên trung

Quả vậy, “Từ ấy” là bài thơ ý nghĩa đánh dấu sự trưởng thành của một con người và của một chặng đường cách mạng gian nan. Tiếng reo vui của tác giả như hòa chúng vào với niềm vui chung của nhân dân.

Post Comment